
<rss version="2.0">
<channel>

<title><![CDATA[Doremon360's Blog]]></title>
<link>http://uk.blog.360.yahoo.com/blog-Hs9HP9s5dLKB.RSrelidl5dECRRu</link>
<description><![CDATA[The World is not enough]]></description>
<language>en-us</language>
<lastBuildDate>Wed, 02 Apr 2008 07:10:04 GMT</lastBuildDate>

<item>
<title><![CDATA[Bai 17 (p.4) : Năm Mão]]></title>
<link>http://uk.blog.360.yahoo.com/blog-Hs9HP9s5dLKB.RSrelidl5dECRRu?p=595</link>
<description><![CDATA[<p align="center" style="text-align:center; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:13.5pt; color:darkred; font-family:Arial; ">Nguồn gốc Việt </span></strong><strong><span style="font-size:13.5pt; color:darkred; font-family:Arial; ">Nam</span></strong><strong><span style="font-size:13.5pt; color:darkred; font-family:Arial; "> của tên 12 con giáp </span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(phần 4) </span><strong><span style="font-size:13.5pt; color:blue; font-family:Arial; "></span></strong></font></p> <p align="center" style="text-align:center; "><strong><span style="font-size:13.5pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Mão/Mẹo/mèo’</font></span></strong></p> <p align="center" style="text-align:center; "><strong><span style="font-size:13.5pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">. </font></span></strong></p> <p align="center" style="text-align:center; "><strong><span style="font-size:13.5pt; font-family:Arial; "></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="font-size:10pt; color:red; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Nguyễn Cung Thông</font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Các bài viết trước (phần 1, 2, 3) cho tóm tắt các liên hệ của tên 12 con giáp đến tên gọi các con vật trong tiếng Việt - sự tương đồng này rất dễ nhận ra từ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa cho đến những tiếng Việt Cổ hơn như Dần-kễnh, Thân-khôn/khọn … mà ta phải dựa trên cách thành lập chữ Hán để tìm ra. Từ bài này (phần 4 trở đi) sẽ đi vào chi tiết từng tên mỗi chi một, hi vọng sẽ cởi bỏ các lớp bụi thời gian và không gian sau bao ngàn năm để chứng tỏ rằng 12 tên con giáp rất gần với tiếng Việt chúng ta, nếu không là chủ nhân các tên con giáp. Người viết sẽ tránh dùng thuật ngữ để người đọc dễ cảm nhận các bài viết này hơn, thanh điệu của một chữ được ghi bằng số và đứng sau chữ đó, khác với cách ghi thanh điệu tiếng Việt hay phiên âm (pinyin) giọng Bắc Kinh. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman">1. Giới thiệu tổng quát</font></font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Mười hai con giáp cho thấy khuynh hướng xa lìa dần thiên nhiên của con người : từ 12 con thú tiêu biểu khi xưa cho đến chỉ vài con vật nuôi trong nhà (pets) hiện tại như mèo và chó mà thôi. Có những con đã ‘mất dạng’ ngay từ lúc 12 con giáp ra đời như rồng, và có những con đang từ từ ít đi như trâu, cọp … Mão là từ Hán Việt (HV) chỉ chi thứ 4 trong 12 chi (thập nhị chi) - giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là mǎo theo pinyin (phiên âm phổ thông) viết bằng bộ tiết (bộ thủ thứ 26). Mão dùng để chỉ thời gian, từ 5 giờ đến 7 giờ sáng hay tháng hai, và chỉ phương đông trong không gian. Theo thiên văn cổ Trung Hoa (TH) và ngay đến bây giờ, biểu tượng của Mão là con thỏ so với con mèo của văn hoá Việt </span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Nam</span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">. </span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Một cách giải thích sự khác biệt này là sự cố tình đổi chữ và âm của người TH thời tiền Hán như đã nói trong phần 2 đã được đăng (phần “Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp”, lưu trữ vào tháng 6, 8 năm 2006 trên khoahoc.net <em>– </em>Tóm tắt tại chú giải (15) của phần 2). </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm3.static.flickr.com/2262/2382259308_8565763037_o.jpg" /></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Ngoài ra, <strong>mèo rất gần với đời sống dân Việt</strong> qua những thành ngữ hay ca dao tục ngữ như ‘ăn như mèo ngửi’, ‘mèo già hoá cáo’, ‘khỉ vẫn là khỉ, mèo vẫn hoàn mèo’, ‘mèo cào không sẻ vách vôi’, ‘mèo mù vớ được cá rán’, ‘mèo vật đống rơm’, ‘mèo hay ỉa bếp’, ‘mèo uống nước bể chẳng bao giờ cạn’, ‘mèo nhỏ bắt chuột con’, ‘mèo nhỏ bắt chuột to’ hay ‘mèo con bắt chuột cống’ - ‘mèo vật đống rơm’, ‘mèo nào cắn mỉu nào’…và …‘con mèo mà trèo cây cau, hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà…’</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Con mèo con mẻo con meo</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Muốn ăn thịt chuột phải leo xà nhà’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Hay </span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">‘Mèo khen mèo dài đuôi</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Chuột khen chuột nhỏ dễ chui dễ trèo’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Hay ‘</span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">Mèo lành ai nỡ cắt tai</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Gái kia chồng rẫy khoe tài chi em’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Và ‘</span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">Mèo hoang lại gặp chó hoang</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Mèo lành ở mả bao giờ</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Của yêu ai có bày ra ở ngoài’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Và </span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">‘Mèo tha miếng thịt xôn xao</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Các câu này được người viết nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bài viết vì trong đó có hình ảnh 3 con vật cũng là biểu tượng cho 3 chi thuộc 12 con giáp, ngoài ra các câu này rất sâu sắc cho thấy tim đen con người (trích từ cuốn ‘Tục Ngữ Phong Dao’ tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và ‘Từ điển thành ngữ ca dao’ Viện ngôn Ngữ Học 1994)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Mèo được nuôi ở khắp nơi trong nước, và cũng có nhiều loại mèo hoang. Ở nông thôn, người ta thường chôn mèo chết dưới gốc cây khế chua, cho rằng như vậy sẽ làm cho khế ngọt. Từ mèo được dùng một lần trong truyện Kiều</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">‘Ra tuồng mèo mả gà đồng’ </span></em><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(câu 1731)</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Cách dùng ‘mèo’ để chỉ người tình, cũng như ‘mèo mỡ’, ‘mèo thấy mỡ’… không thấy dùng trong ngôn ngữ TH, cho thấy sự rất gần gũi của loài mèo với con người Việt Nam. So với cách dùng mèo trong văn hoá TH, ta thấy trong vốn từ bây giờ có chữ miêu HV, māo/máo BK - giọng Quảng Đông là miu4, mau4, mau1, giọng Hẹ là miu2, miu5 … viết bằng bộ trỉ (loài bó sát không có chân, bộ thủ thứ 153) hợp với chữ miêu (mầm mống) hài thanh (HT) hay bộ khuyển hợp với chữ miêu HT. Tương phản với văn hoá Việt, miêu ít thấy dùng trong các thành ngữ hay ca dao tục ngữ TH - chỉ vài ba câu như </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Miêu thử đồng miên’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(mèo chuột ngủ chung, ý nói sự a dua làm chuyện xấu)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Miêu khốc lão thử giả từ bi’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(mèo khóc khi chuột chết, ý nói sự đạo đức giả)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Các thành ngữ ca dao dính líu đến mèo thường mang tính cách tiêu cực trong cả hai nền văn hoá VN hay TH, như một điển tích đời Đường cho thấy</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">‘Lý Miêu tên là Lý Nghĩa Phú, tính nham hiểm mà ngoài mặt vẫn giữ vẽ hiền lành nên người đương thời gọi là Lý Miêu’ </span></em><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(Tầm Nguyên Tự Điển, Bửu Kế)</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><img src="http://farm4.static.flickr.com/3022/2381576483_1de0d49722_o.jpg" /></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span><font size="1">Nếu <strong>hình ảnh con mèo rất hiếm thấy trong văn hoá Trung Hoa</strong> thì ngược lại, chúng ta thường gặp hình ảnh con thỏ hơn - một loài vật hình dạng giống như mèo như hai tai rất lớn, khối lượng (mass) cũng gần nhau … – chúng ta sẽ trở lại vấn đề này khi phân tách chữ viết/khắc cổ của chữ mèo và thỏ vì chữ viết (Hán Cổ, như Giáp Cốt Văn, Chung Đỉnh Văn) thường tượng hình. Lông thỏ thường dài hơn lông mèo và dùng làm bút để viết chữ Hán. Loài thỏ chịu được nhiệt độ cao nhất khoảng 32<sup>o</sup>C so với loài mèo chịu được tối đa 52<sup>o</sup>C, phản ánh loài vật sống ở miền lạnh cùng với dân du mục ở phương Bắc so với loài vật sống ở phương Nam ấm hơn với khuynh hướng sống về nông nghiệp.</font></span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> </span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Thỏ hay <strong>thố</strong> HV viết bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của chữ này trong ngôn ngữ TH, giọng BK bây giờ là tù so với giọng QĐ tou3, Hẹ là tu5, Ngô là thu5 … Xem lại các truyền thuyết trong văn hoá dân gian ta thấy bóng đen(2) trên mặt trăng ‘giống hình’ chú cuội ngồi gốc cây đa… khác hẳn với truyền thuyết TH về con thỏ trên mặt trăng nên mặt trăng (3) còn được gọi là ngọc thố, thỏ bạc, thỏ ngọc, bóng thỏ (bóng trăng), thỏ phách, bạch thố (con thỏ trắng giã thuốc, ý chỉ mặt trăng) … hay thành ngữ ‘thỏ giỡn trăng’, ‘thỏ thoát’ (thoát đi như thỏ) … cũng như một số thành ngữ cổ điển HV như :</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Thỏ tử cẩu phanh’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(hễ thỏ chết thì đến lượt chó bị làm thịt, hết dùng được thì ăn đi)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘<strong><span style="background:yellow; ">Thổ</span></em> tử hồ bi’</font></span></strong>  <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(thỏ chết thì ngay cả cáo/chồn cũng buồn thương)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">‘</span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">Thỏ dinh tam quật’</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(thỏ khôn có ba hang, có nhiều cách tính và lối thoát)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Cũng như ‘</span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">Giảo thố tam quật’</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(thỏ khôn có ba hang, khôn có nhiều lối thoát)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Thỏ khởi phù cử’</font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(nhanh như thỏ và vịt trời khi khởi động)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">‘</span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">Thỏ khởi ban cưu lạc’</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(nhanh như thỏ chạy hay chim ban cưu đáp)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">‘</span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">Thỏ ti yến mạch’</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(chỉ có hư danh thôi, ‘có tiếng mà không có miếng’)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">‘</span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">Thỏ tử bất ngật oa biên thảo’</span></em></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(thỏ không ăn cỏ ở gần ổ, ý nói kẻ gian không lương lẹo với hàng xóm)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘<strong>Thổ</em> tử vi ba trường bất liễu’</font></span></strong>  <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(đuôi thỏ không dài ra được, ý nói một sự kiện rõ ràng ‘như ban ngày’)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Thủ chu đãi <strong>thố</em>’</font></span></strong>  <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(khư khư chờ thỏ đến, như ‘há miệng chờ sung rụng’ việc khó đến) </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Thật ra, thỏ đã hiện diện ngay trong Kinh Thi4 qua tựa một thiên là Thố Thủ (đầu thỏ),</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">‘Hữu <strong>thố</em> tư thủ, bào chi táo chi’</font></span></strong>  <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(có đầu thỏ để quay để nướng, ý nói vật nhỏ cũng có công dụng …)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Các thí dụ trên cho thấy hai nền văn hoá VN và TH phát triển rất khác nhau qua hình ảnh mèo và thỏ</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">. Ngay trong tiếng nói hàng ngày, tiếng Việt chỉ dùng nhóm từ sứt môi (hare lip, cleft lip) so với tiếng TH là tùchún (giọng BK hay thố thần HV, môi thỏ ý nói sứt môi giống loài thỏ)(5) và chúnliè (thần liệt, môi sứt) … Tuy rất xa lạ với tộc Việt, ảnh hưởng về sau của thỏ còn thấy trong truyện Kiều, chữ thỏ được dùng hai lần so với mèo chỉ được một lần mà thôi</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">‘<em>Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương’ </em></span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(câu 1370)</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">‘</span><em><span style="font-size:10pt; color:blue; font-family:Arial; ">Lần lần thỏ bạc ác vàng’ </span></em><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(câu 1269)</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="color:black; font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman">2. Các liên hệ hay lẫn lộn giữa mèo và thỏ</font></font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">2.1 Như đã viết ở bài 2 phần ‘Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp’, <strong>mãn</strong> (Việt Cổ) là mèo chỉ hiện diện trong tiếng Việt mà các dạng biến âm khác có thể là <strong>miễn, mãn, wan</strong> mà tàn tích rất hiếm trong tiếng TH như miễn (thỏ con), man (mèo hoang). Biến âm từ oan (hay môi hoá thành man) ra mãn hay miễn có thể giải thích được, nhưng từ chữ miễn trở thành thố như trong cách viết cổ thời Xuân Thu thì khó giải thích hơn – có thể các giọng địa phương bị ‘thanh lọc’ bởi nhóm nắm quyền hành thời đó, hay vì cố tình thay đổi. Trường hợp này vẫn thấy trong tiếng Việt qua cách gọi chợ Đông Ba (trước là Đông Hoa) hay cầu Bông (trước là cầu Hoa) vì kỵ huý bà Hồ Thị Hoa - mẹ vua Thiệu Trị - giọng địa phương trong trường hợp này là Thừa Thiên. Tương quan Mão-Thố còn có thể liên hệ đến cách dùng tương đương của mạo-thù (oán), mão-thủ (đều nghĩa là đầu), mạo-thụ/thọ (sống già)… Điều này còn thấy trong một cách đọc qŭ (thủ/thỏ HV)6 rất khác với âm miáo (mão, miêu HV) của thành phần HT của chữ miêu (mèo).</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">2.2 Ngoài ra, một chữ hiếm thấy là nâu/nậu6, viết bằng bộ thanh hợp với chữ thố, giọng BK bây giờ là nóu, nau4 QĐ, neu2 Hẹ cũng như một giọng đọc Hẹ nữa là wan5 – theo người viết chính là một dạng của âm mãn phương Nam (mèo). Chữ này có nghĩa là một tên cũ của thỏ. <strong>Xem cách viết/khắc cổ của chữ thố và miễn, ta thấy rất giống nhau (hai lỗ tai rất rõ nét) trừ một dấu phẩy ở bên phải chỉ đuôi con thỏ.</strong></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Các chữ hiếm khác như lưu, liễu HV (líu, lĭu BK) viết bằng bộ thử (chuột) hợp với chữ mão HT hay lưu HT đều có nghĩa là một loài thú có kích thước như con thỏ - điều này cho thấy cách phân loại xưa kia rất mơ hồ và rất dễ lẫn lộn. Thành ra mèo và thỏ rất dễ thay đổi cho nhau mà ít ai có thể nhận ra được !</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">2.3 Ta hãy xem vài tiếng vẫn còn dùng trong vốn từ TH hiện nay : <strong>thố tôn</strong> HV (tùsūn BK hay sá-lị tôn shēlìsūn BK) là một loại mèo hoang hay mèo rừng dù rằng dùng chữ thố/thỏ. Loài mèo này có lông dày làm áo lạnh rất tốt (theo Từ Nguyên). Dã miêu HV hay yĕmāo BK có nghĩa là thỏ rừng hay mèo rừng! </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">2.4 Ngay cả nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đều diễn giải chi thứ tư Mão bằng con thỏ, so với tự điển Việt-Bồ-La (1651) của giám mục Alexandre de Rhodes – ghi nhận giờ Mẹo (mèo) bằng con mèo trước ‘Vân Đài Loại Ngữ’ hơn cả trăm năm ! Điều này cho thấy tình trạng hỗn loạn của văn chương ‘bác học’ lệ thuộc vào tiếng TH hay HV (nâng cấp mèo thành ra thỏ), tương phản với văn chương bình dân vẫn giữ nguyên dạng cũ (mèo). <strong>Nhờ các sự sai biệt này mà ta có cơ hội để truy nguyên các chữ.</strong></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">2.5 Trong khi tra cứu thêm về dữ kiện khảo cổ để viết bài này, người viết có dịp đọc qua một bản tin từ Tân Hoa (Xinhua News Agency, ngày 22 tháng Tám, 2006) trên mạng về các xương thú tìm thấy sau khi bị chôn sống cách đây khoảng <strong>1700 năm</strong>. Các xương thú vật tìm thấy gồm có mèo, chó, heo, dê, trâu và trừu… Đây là lần thứ hai xương các con mèo được tìm thấy trong những mộ cổ khai quật bên Trung Hoa. Những khám phá về khảo cổ ở TH và Việt Nam rất quan trọng để kiểm nghiệm lại nguồn gốc chính xác của 12 con giáp, hỗ trợ cho kết quả từ ngôn ngữ học - tại sao không có xương thỏ ? Mèo là loài động vật ăn thịt (carnivore) và săn đuổi chuột, mà lại không ăn hại thóc lúa nên rất thích hợp cho xã hội nông nghiệp – khác với loài thỏ. Năm 2004, xương mèo và người đã được tìm thấy ở </span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Cyprus</span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> (xem thêm </span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><a href="http://en.wikipedia.com/"><span style="color:windowtext; ">http://en.wikipedia.com</span></a><span style="color:black; "> ) và tuổi ngôi mộ cổ này ước lượng cách đây khoảng <strong>9500 năm</strong> cho thấy thời kỳ thuần hoá mèo xẩy ra khá lâu.</span></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><span style="color:black; ">.</span></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><font style="background-color:#ffff00; "><strong>Tóm lại</strong></font>, mèo và thỏ rất dễ bị lẫn lộn mà tàn tích còn thấy trong các cách dùng trên. Có tác giả cho rằng nước Việt xưa không có thỏ, nên đổi thỏ qua mèo - người viết không đồng ý vì không phù hợp với các dữ kiện ngôn ngữ trên và sự thay đổi chữ miễn/mãn thành chữ thố. <strong><font style="background-color:#ffffff; ">Các điều này cho thấy nguyên thuỷ chi thứ tư có thể là Mão/Mẹo/mèo và bị đổi thành thỏ</font>, </strong>cũng phù hợp với ảnh hưởng văn hoá Cổ Đại của phương Nam lên phương Bắc TH trước khi TH thống nhất, thời kỳ Tần Hán và sau đó văn học Đường Tống khởi sắc và chiều ảnh hưởng lại từ phương Bắc lan ra khắp nơi.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman">3. Phụ âm đầu m- của Mão/Mẹo/mèo</font></font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Chữ Mão thường được dùng làm thành phần HT để tạo ra các chữ Hán khác như sao Mão (bộ nhật hợp với chữ Mão), sông Mão (bộ thuỷ hợp với chữ Mão), như liễu (cây liễu, bộ mộc hợp với Mão), mậu (mua bán, bộ bối hợp với chữ Mão) - mậu HV còn là mù, loà - để ý các âm đầu m và l … Nhưng cũng có khi đọc khác hơn như chữ lưu (ở lại, bộ điền hợp với chữ Mão), kiếu/giáo (hầm hố, bộ huyệt hợp với chữ Mão, có thể đọc là liêu/lưu) … Các dạng trên cùng với các phương ngữ TH như BK, QĐ, Hẹ, Ngô (Thượng Hải) và Hán Việt… cung cấp cho ta một số dữ kiện để có thể phục hồi một dạng âm Thượng Cổ của Mão là *mru? Phù hợp với dạng phục hồi của William Baxter trong cuốn ‘A Handbook of Old Chinese Phonology’ (1992), để ý phụ âm l có thể hoán chuyển với r , nhưng theo Bernhard Karlgren thì hơi khác với dạng *mlôg trong cuốn ‘Grammata serica recensa’ (1957). Có những tác giả khác đề nghị dạng lm- thay vì ml- như Andrew Miller chẳng hạn (1951) dựa vào các cách viết và phát âm tiếng Hán Thượng Cổ …v.v… Dù dạng gì đi nữa, ta dễ nhận ra tàn tích của âm liu- và lau- như đã ghi lại trong phần 2.2 ở trên, cũng như âm miêu của HV. <strong>Nhìn rộng ra các tiếng phương Nam chỉ con mèo như</strong> mèu (Kơho), maau (Thái), maau (Lào), chmaa (Kampuchia), maau (QĐ), māo BK … so với tiếng mèo kêu là miu, meo (Việt), miāo BK, miu (Thái) … <strong>cho thấy một tương quan khá rõ nét giữa tiếng mèo kêu và tiếng chỉ con mèo (8), và đương nhiên là tiếng gọi chi thứ tư Mão/Mẹo/mèo</strong>. Vậy mà tài liệu TH từ thời tác giả Vương Sung (27-97, trong ‘Thiên Sinh luận’ cuốn “Luận Hành’ thời Hán) cho đến tận ngày hôm nay vẫn cho rằng thỏ là con vật biểu thị cho chi Mão/Mẹo/mèo !</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Phụ âm đầu m có thể là tàn tích của nhóm phụ âm ml- mà ta thấy trong tự điển Việt-Bồ-La như mlầm mlở là lầm lở, mlạt là lạt, mlẽ là lẽ…với âm đầu (tiền tố) m mất đi. Mlầm còn bị ngạc hoá (palatalisation) để cho ra nhầm, mlạt &gt; nhạt, mlẽ &gt; nhẽ, mlớn &gt; lớn và nhớn … Alexandre de Rhodes cũng nhận ra điều này khi ông ghi mnhầm, mnhẽ là lầm, lẽ. Khuynh hướng ml- ngạc hoá cho ra </span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">nh-</span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> giải thích được sự hiện diện của chữ nheo : mi &gt; *nhi &gt; nheo , lông mi chính là lông nheo. Người viết nhớ lại trong thập niên 1960, khi ảnh hưởng người Mỹ bắt đầu gia tăng ở miền Nam, trong khẩu ngữ từng dùng âm Mẽo để chỉ Mỹ/Mĩ cho thấy biến âm i-eo còn có thể xẩy ra gần đây hơn.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3">4. Nguyên âm a và e của Mão/Mẹo/mèo</font></span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> </span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Mẹo và mèo là âm cổ hơn của Mão, các nguyên âm chính ở trước (front vowels) như e thường là dạng âm cổ hơn của các nguyên âm sau (back vowels) như a. Thí dụ :</font></span></p> <p align="center" style="text-indent:0.5in; text-align:center; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2131/2382260128_4a7355bbda_o.jpg" /> <br /><br /></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Để ý một số nguyên âm e BK bây giờ đã từng có âm cổ a, hay nguyên âm a BK bây giờ có các dạng âm cổ hơn là o, ô và u – và cũng tuỳ các phụ âm đứng trước cùng thanh điệu chứ không thống nhất như chuỗi biến âm mèo-Mẹo-Mão9. Một điểm đáng chú ý là từ mẹo còn có nghĩa là phương thức (mưu mẹo) khi viết chữ Nôm thì mượn trực tiếp chữ Mão HV. Mưu HV viết bằng bộ ngôn hợp với chữ mỗ HT, giọng BK móu so với mau4 QĐ, meu2, meu3, miu2, miau3 Hẹ và âm mẹo cũng là âm cổ của mưu HV vẫn hiện diện trong tiếng Việt. Điều này phù hợp với khuynh hướng tương đồng của nguyên âm sau so với các nguyên âm trước (o/u ~ e) cũng như a ~ e đã nói phần trên. Ngoài ra yêu(10) HV viết bằng bộ nhục hợp với chữ yêu HT, </span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">yāo</span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> BK là giọng bây giờ so với jiu1 QĐ, jau1, jeu1, rau1 Hẹ, io1 (Ngô), iau1 (Minnan/Đài Loan) mà eo là một dạng âm cổ hơn được duy trì trong tiếng Việt.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3" face="Times New Roman"></font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman">5. Thanh điệu và kết luận phần 4</font></font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt vẫn gây nhiều tranh luận (9), tuy nhiên liên hệ mèo-Mẹo và Mão cho thấy những thanh điệu còn lại qua một thời gian giao lưu văn hoá rất lâu. Vài nhận xét sơ khởi là mả-mồ-mộ so với mô, mu, mồng, mộng và giọng BK bây giờ mù, mú (viết bằng bộ thổ hợp với chữ mô HT) mou6 QĐ, mu5, mu6 Hẹ, mo6 (Ngô) và bong7 (Minnan/Đài Loan - để ý dạng bong7 tương ứng với bùng, bồng, bung, bổng…). Các thanh huyền, nặng và ngang đều thuộc thanh (âm) vực trầm (trọc), nhưng thanh hỏi mả cho thấy sự khác biệt do thời gian trong tiếng Việt lâu hơn nên có nhiều biến dạng hơn. So sánh các thanh điệu sau đây :</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "></span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2036/2382260318_c5f842a026_o.jpg" /></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Thâm HV hay shēn, shèn BK, sam1 QĐ, chim1, cim1, cihm1 Hẹ, chhim1 (Minnan/Đài Loan), sơng1 (Ngô/Thượng Hải) có các dạng khác nhau như sâm, xâm (xâm xẩm), thẳm (thăm thẳm), đậm, thầm (tối tăm)11… cho thấy tương quan thanh điệu như mả-mồ-mộ-mô trên, cũng như một liên hệ có từ rất lâu - trước thời Đường Tống khi các biến âm sh-th, s-t xẩy ra một cách hệ thống hơn và khi hệ thống âm thanh Hán Việt bắt đầu hoàn chỉnh hơn. Liên hệ mèo-Mẹo-Mão và meo cũng phù hợp với những biến đổi thanh điệu như trên : các thanh huyền (mèo), nặng (Mẹo), ngang (meo) và ngã (Mão) đều thuộc thanh vực trầm.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Một hiện tượng nên được ghi nhận nơi đây là sự rút ngắn âm cuối (12) (apocope). Tác giả Lê Hữu Mục trong cuốn ‘Truyện Kiều và tuổi trẻ’ (Toronto, Canada 1998) có nhận xét về ‘…luật n/i rất nổi tiếng và tôi học được từ thầy tôi..’ (trang 93), được trích ra như sau :</font></span></p> <p align="center" style="text-indent:0.5in; text-align:center; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "></span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm3.static.flickr.com/2305/2381428225_2ef8072405_o.jpg" /></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Hiện tượng rút gọn âm cuối cũng xẩy ra trong tiếng TH hiện nay như wú-wáng BK (vô-võng HV), nán-ná BK (nam HV), màn-mù-mò BK (mành), xìng-sōu (tân HV, đỏ) … hay khi mượn từ tiếng TH vào tiếng Nhật như hōng (hồng) thành ko-, wăng thành mo- ..</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Một số tác giả cho rằng khi rút gọn âm cuối thì tạo ra thanh điệu, điển hình và đầu tiên hết là nhận xét của học giả André Haudricourt trong các bài viết từ năm 1954, sau đó Edwin Pulleyblank bổ túc thêm về nguồn gốc thanh điệu qua các dữ kiện về tiếng Hán Cổ. Thí dụ như vào đầu công nguyên, tiếng Việt không có thanh điệu và quá trính các biến âm ghi lại trong bảng sau :</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2298/2382260724_1b10603f55_o.jpg" /> <br /></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">. <br /></p></span> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; background:yellow; color:black; font-family:Arial; ">Tóm lại</span></strong><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">,</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> liên hệ của Mão-Mẹo-mèo có thể giải thích qua các dạng âm cổ phục hồi như trên, từ âm tiết đến thanh điệu. Để giải thích sự thay đổi từ mèo qua thỏ/thố, ta cần có liên hệ của mãn-mèo qua hiện tượng rút gọn âm và vết tích từ các văn tự cổ : chữ thố và miễn (hay mãn HV wăn BK) viết cùng một chữ trên bia khắc thời Hán và nhà thờ Vũ Lương thời Đông Hán (13). Thành ra ta có cơ sở để cho rằng Mão-Mẹo đã từng là mèo, nhưng có sự thay đổi chữ viết, có thể vì cách dùng địa phương (nên triều đại đương quyền muốn chỉnh đốn lại) hay là cố tình bôi xoá nguồn gốc ‘Nam man’ của chi thứ tư chăng ? Hay có thể là đổi loài vật cho hợp với gốc du mục của nhóm cầm quyền ? Nhớ rằng chỉ có tộc Việt (14) mới dùng con mèo cho chi thứ tư mà thôi, các ngôn ngữ khác bị ảnh hưởng văn hoá TH đều dùng thỏ (xem bảng so sánh – bài viết phần 2).</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">.</span></font><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3" face="Times New Roman"> </font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman">6. Phụ chú và tài liệu tham khảo chính</font></font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(1) Bằng cách khôi phục lại môi trường sinh sống của 12 loài vật khi đi ngược dòng thời gian, ta có thể tìm ra được phần nào địa lý (vùng không gian) mà chủ nhân của 12 con giáp đã từng cư ngụ - do đó tăng mức chính xác về nguồn gốc tên 12 con giáp từ lăng kính thời gian và không gian. Đây là một trong những vấn đề còn mở ngõ. Một thí dụ gần đây hơn là loại thỏ sống trên núi bên Mỹ, gọi là pika, vì khí hậu thay đổi và nhiệt độ tăng dần làm cho chúng phải lên miền cao hơn để sống và có hiểm hoạ diệt chủng !</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(2) Các bóng đen trên mặt trăng thật ra là các thung lũng do chất lỏng nóng (lava) từ các núi lửa xưa chảy xuống. Vì có nhiều chất sắc (iron) nên trở thành màu đen nếu quan sát bằng mắt trần hay viễn vọng kính (telescope) từ trái đất. Các bóng đen này gọi là maria (tiếng La Tinh nghĩa là biển) vì các nhà thiên văn xưa kia tưởng chúng là những hố lớn chứa nước … Chính các nhà khoa học từng lầm nữa huống chi những người bình thường dùng mắt trần. Các hình ảnh trên mặt trăng không rõ ràng như trên đã tạo ra không biết bao nhiêu huyền thoại tìm thấy qua bao nhiêu nền văn hoá con người. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(3) Hằng Nga hay Thường Nga, vợ Hậu Nghệ, lấy trộm thuốc trường sinh của Tây Vương Mẫu và bay lên cung trăng ở và sống mãi không chết (chuyện Thường Nga bôn nguyệt). Tương truyền Hằng Nga là cô gái rất đẹp.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(4) Kinh Thi là một trong Ngũ Kinh nổi tiếng của TH gồm có 305 bài thơ, có bài viết từ 1000 TCN (Trước Công Nguyên) – tương truyền Khổng Tử (551-479 TCN) có đóng góp trong việc soạn lại Kinh Thi. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(5) Hiện tượng (bệnh) sứt môi ít thấy trong các loài chó, và rất là hiếm thấy trong các loài mèo. Năm 2004, một loại gen đặc biêt đã được tìm thấy làm tăng gấp 3 lần khả năng bệnh này. Thổ dân Mỹ và người Á Châu bị nhiều nhất so với dân Mỹ gốc Phi.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(6) xem thêm </font><a target="_blank" href="http://www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php"><font color="#00007f" face="Times New Roman">http://www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php</font></a></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(7) xem thêm </font><a target="_blank" href="http://www.china.org.cn/english/features/Archaeology"><font color="#00007f" style="background-color:#ffffff; " face="Times New Roman">http://www.china.org.cn/english/features/Archaeology</font></a><font face="Times New Roman"> </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(8) phải cẩn thận khi so sánh những tiếng nói khi có thể chúng là tiếng tượng thanh (nhái lại tiếng động của đối tượng, sound symbolism) - rất có thể chúng không có liên hệ họ hàng (họ ngôn ngữ, language family) và các tính chất giống nhau là do sự nhái lại của cùng một âm thanh (cùng nguồn) mà thôi, hay sự trùng hợp có tính cách ngẫu nhiên (accidental). Đây là mục đích của các khảo cứu về nguồn gốc ngôn ngữ con người rất lí thú nhưng không nằm trong phạm trù các bài viết này. Để ý tiếng mèo kêu (thường lắp láy) là miaau (tiếng Afrikaans), mjau (Albani), miaou (Ả Rập), mijau (Croatia), miauw (Hà Lan), miaou (Pháp), miau (Đức), miau (Hungari), miyau (Do Thái), mya:u (tiếng Ấn Độ/Hindi), miao (Ý/Itali), meow (Thái), miyauv (Thổ Nhĩ Kỳ), miau (Ba Lan), mjau (Thuỵ Điển), myau (Nga) … so với nyaa (Nhật), ngeong (Inđônêsia), (n)ya-ong (Đại Hàn), ngoeo (Việt) …v.v… Nhưng khi xét các từ chỉ động vật như voi, chuồn chuồn, bướm, ong, mèo, cóc, vịt …cũng như tên 12 con giáp thì còn các vết tích trên trong vốn từ TH hiện nay, dù rằng rất hiếm và đã biến dạng nhiều từ âm thanh đến phạm trù nghĩa. Điều này cho thấy một kết quả của một ‘nước TH rời rạc’ đã từng tiếp xúc với các dân tộc phương Nam thời Thượng Cổ, trước khi TH thống nhất và ngôn ngữ phản ánh dân tộc cầm quyền phương Bắc mà hệ thống âm thanh rất khác so với phương Nam. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(9) xem thêm các tác giả William Baxter (sđd), Bernhard Karlgren (sđd) và Edwin G. Pulleyblank qua cuốn ‘Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese and early Mandarin’ (1991), ‘Middle Chinese : a study in historical phonology’ (Vancouver, Canada 1984). Tác giả Nguyễn Tài Cẩn qua cuốn ‘Một số vấn đề về chữ Nôm’ (Hà Nội, 1985) và ‘Lịch sử ngữ âm tiếng Việt’ (Hà Nội, 1995) cũng phân tách các khuynh hướng biến âm trên như Lê Văn Quán qua cuốn ‘Nghiên cứu về chữ Nôm’ (Hà Nội, 1981)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(10) yêu HV có phạm trù nghĩa không rõ ràng : có thể là cái lưng, thận hay thường dùng hơn là cái eo. Các từ chỉ bộ phận con người như bàng (bả vai, cánh tay trên, bong bóng..), đỗ (bụng, dạ dày..), cổ (bắp vế, hông..) có nghĩa không chính xác vì quá rộng hay mơ hồ, và trải qua một thời gian rất lâu - tương ứng với hiện tượng đặt tên các loài thú như mèo-thỏ, rồng (không có định nghĩa rõ ràng), rắn (trăn, lươn ?) … Khuynh hướng phương Tây đi vào chi tiết các tên gọi như trong tiếng Anh, thỏ là rabbit, hare, pika, cottontail, bunny (hay bunny rabbit), coney (hay cony), buck (thỏ đực), doe (thỏ cái); Mèo tiếng Anh là cat, tom (mèo đực, hay tomcat), queen (mèo cái), một đàn mèo gọi là clowder …v.v… so sánh với hai chữ thỏ/thố và mèo trong vốn từ tiếng Việt. Các loài vật được phân loại theo họ, chi … theo hệ thống rõ ràng như sau (rất tóm tắt)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Phân loại</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> -- <strong>Thỏ</strong> -- <strong>Mèo</strong></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Kingdom -- Animalia – Animalia</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Phylum -- Chordata – Chordata</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Class --- Mammalia – Mammalia</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Order --- Lagomorpha – Carnivora</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Family -- Leporidae – Felidae</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">….. -- …. -- ….</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Các chi được chia thành những chi động vật phụ (genus) như mèo (nhà) thuộc chi Felis, và nhánh phụ (species) là F. Silvestris …v.v… Những cách phân loại rõ ràng và dữ kiện về giải phẫu (anatomy), quá trình tiến hoá (evolution) làm cho ta dễ phân biệt hơn.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(11) thâm HV có thể liên hệ đến đêm, đen …là các tiếng thường gặp trong ngôn ngữ họ Nam Á (Austroasiatic) hay nhánh Môn-Khme. Tại sao như vậy ? Ta hãy nhìn từ đen của tiếng Mường là têm hay zơm (phụ âm t- và z- đầu, liên hệ đến t/đ- và sh-), bêtăm (tiếng Môn), tam/yong (Kơtu), đăm (Thái), đơm (Li), hitam (Mã Lai, Chăm) … so với từ đêm của tiếng Mường là lêm, têm và mlăm, pđăm (Chăm), rêm, mlăm (Thái), đăm (Nùng), đêm (Aslian), têm/tăm/đum, htêm, btêm (Môn) … cho thấy có thể các dạng trên đều cùng một gốc (phương Nam) mà ra. Trong vốn từ tiếng TH hiện nay có chữ đàm HV ít dùng với giọng BK bây giờ là tán, tam4 QĐ, tam2 Hẹ so với tham5 Ngô viết bằng bộ á nghĩa là sâu đậm. Đàm HV viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ đàm HT nghĩa là cái đầm (sâu), đàm HV viết bằng bộ mã hợp với chữ đàm HT nghĩa là con ngựa đen... cho thấy tàn tích của *đam (đậm, đen) của phương Nam trong tiếng TH.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(12) hiện tượng rút ngắn âm cuối thường xẩy ra trong họ Ấn-Âu như trong tiếng Anh chữ morning trở thành morn, photograph trở thành photo, tên riêng Alexander trở thành Alex, Thomas thành Tom … Cinéma (tiếng Pháp) trở thành xi nê … Không những là một cách tạo ‘chữ’ mới, khuynh hướng rút gọn trên cũng là luật ngữ pháp căn bản cho một số ngôn ngữ như tiếng Tây Ban Nha : thí dụ như uno (một) nhưng khi viết thành un mundo (một thế giới) thì âm cuối –o của uno mất đi…v.v… </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(13) chữ thố/thỏ và miễn viết giống nhau thời Xuân Thu theo các tác giả Triệu Bá Bình và Thời Học Tường, chủ biên cuốn “Lâm Ngữ Thú Thoại” - bản dịch ra tiếng Việt – NXB Văn Hoá Thông Tin – Hà Nội (2005)…’ âm đọc của thố và miễn rất gần nhau, do đó người xưa đã dùng âm đọc của miễn để biểu thị chữ oan…’ (trang 489)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(14) theo từ điển ‘Việt-Mông’ tác giả Thào Seo Sình, Phan Xuân Thành và Phan Thanh – NXB Giáo Dục – Hà Nội (1999) : chi thứ tư Mão đọc là mir (mèo) hay luôr (thỏ). Dân tộc Hmông (hay Mông, Mèo, Miêu) có những đặc tính giống tộc Việt như truyền thống con rồng cháu tiên, rất thích âm nhạc (nhảy múa), dùng trống đồng trong âm nhạc cổ truyền, cũng thuộc về bộ lạc Si Vưu …v.v… Người viết chưa đọc được một văn bản hay dữ kiện khảo cổ nào liên hệ tên 12 con giáp đến văn hoá cổ đại của dân tộc Mông, cũng như dân tộc Lê (ở đảo Hải Nam, thuộc nhóm Bách Việt) vẫn còn tập tục xăm mình và gọi tên ngày theo tên 12 con giáp. Đây là những vấn đề cần phải khảo cứu thêm để soi sáng rõ nguồn gốc tên 12 con giáp thời Thượng Cổ.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">.</span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><strong>(Xem tiếp phần 5)</strong></font></span></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p> <p></p></p></p></p></p>]]></description>
<pubDate>Wed, 02 Apr 2008 07:10:04 GMT</pubDate>
</item>

<item>
<title><![CDATA[Bai 17: Nguon goc Viet Nam cua ten 12 con giap (P.3)]]></title>
<link>http://uk.blog.360.yahoo.com/blog-Hs9HP9s5dLKB.RSrelidl5dECRRu?p=585</link>
<description><![CDATA[<p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:18pt; font-family:Arial; ">Nguồn gốc Việt </span><span style="font-size:18pt; font-family:Arial; ">Nam</span><span style="font-size:18pt; font-family:Arial; "> của tên 12 con giáp</span></strong><span style="font-size:16pt; font-family:Arial; "> (phần 3) <span style="color:white; "></span></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:16pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Nguyễn Cung Thông</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">.</span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font size="3"><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-family:Arial; ">1. Giới thiệu tổng quát</span></strong><span style="font-family:Arial; "></span></font></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Từ các bài viết trước ta đã thấy một số liên hệ sơ lược của tên 12 con giáp như <strong>Tý</strong>/Tử/chuột, <strong>Ngọ</strong>/ngựa,<strong> Mão</strong>/Mẹo/mèo, <strong>Dần</strong>/*kian/kễnh (cọp), <strong>Thân</strong>/Khon/khọn (khỉ), <strong>Sửu</strong>/*ch-lư/klu/tlu (trâu). Phần này sẽ tóm tắt các tương quan còn lại giữa tên 12 con giáp và tên gọi các con vật trong tiếng Việt, Việt Cổ. Một lần nữa, nguời viết sẽ tránh dùng các thuật ngữ để bài viết dễ đọc và dễ cảm thông hơn. Với những tài liệu bằng chữ Hán, Nôm, Việt và ngoại ngữ hầu như đều hàm ý rằng nguồn gốc Trung Hoa (TH) của tên 12 con giáp, nên vấn đề đặt lại nguồn gốc không dễ dàng cũng như vượt qua bức tường rất cao và dày của <strong>‘định kiến’</strong> này qua bao ngàn năm. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></p><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm3.static.flickr.com/2023/2381426911_723fafb1dc_o.jpg" /><img height="97" width="98" alt="" src="http://farm3.static.flickr.com/2005/2381426939_3d2a3b4723.jpg?v=0" /><img src="http://farm3.static.flickr.com/2262/2382259308_8565763037_o.jpg" /></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm4.static.flickr.com/3285/2382259384_78bd15d599_o.jpg" /><img src="http://farm3.static.flickr.com/2297/2382259446_cf22db39ed_o.jpg" /><img src="http://farm4.static.flickr.com/3206/2382259492_6a95dcc4fe_o.jpg" /></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Chúng ta hãy xem vài vết tích của tiếng Việt trong tiếng Hán (Cổ) để thấy <strong>khuynh hướng biến dần đi của vốn từ phương Nam trong tiếng Trung Hoa hiện đại </strong>qua các tên chỉ loài vật như ong, bướm …v..v… Nhắc lại rằng trong Phần 1 chúng ta đã duyệt qua tiếng cóc, voi, vịt, chuồn (chuồn) đã từng hiện diện trong tiếng TH dù rằng ít thấy. Từ khuynh hướng gọi tên các động vật, hi vọng chúng ta sẽ thấy rõ hơn tại sao tên 12 con giáp lại rất gần gũi với tộc Việt chứ không phải của TH như từ trước đến nay như mọi người đều lầm tưởng ! </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Ý thức được rằng sự thay đổi một định kiến đã nằm sâu trong xương tuỷ chúng ta từ bao ngàn năm nay thật là khó khăn, tuy vậy sự thật vẫn cần phải được đưa ra ánh sáng để các cuộc nghiên cứu trong tương lai có thể kiểm nghiệm một cách nghiêm túc, khách quan và theo đúng phong cách của khoa học hiện đại. Các bài viết 1, 2 và 3 chỉ tóm tắt rất sơ lược quan hệ tên 12 con giáp, những bài viết sau sẽ chi tiết hơn và phân tích từng tên mỗi con để thấy rõ nét các mối dây liên hệ đến tộc Việt. Phiên âm giọng Bắc Kinh theo lối Phiên Âm (pinyin) thường gặp hiện nay.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">.</span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman"><strong>2. Tiếng Việt và tiếng Hán Cổ </strong></font></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">2.1 Ong là động vật có nhiều gắn bó với văn hoá VN qua các thành ngữ như “nuôi ong tay áo” và ‘chạy như ong vỡ tổ”… cho thấy tâm lý con người. Danh từ ong được dùng 8 lần trong truyện Kiều so với bướm (7 lần)</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><em>“Tiếc thay một đoá trà mi</em></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><em><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">Con ong đã tỏ (mở) đường đi lối về” </span></em><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">(câu 845-846, Kiều)</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Ong viết bằng chữ Nôm thường gặp là bộ trùng hợp với chữ phùng (gặp) hài thanh (HT), chữ này cũng chính là phong Hán Việt (HV) nghĩa là con ong - giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là feng1, Quảng Đông (QĐ) là fung1, Hẹ là fung1, bung1 … cho thấy tương quan <strong>ong-phong</strong> rất đặc biệt, có thể là cùng một gốc như qua các tương quan <strong>ông-công</strong>, <strong>ung-muống</strong>. Ông (bà) HV viết bằng bộ vũ hợp với chữ công, giọng BK bây giờ là weng1, weng3 so với jung1 QĐ, wung1, vung1 Hẹ và ong1 (Ngô), ang1 (Minnan/Đài Loan). Ngôn ngữ TH hiện nay không có nhiều tiếng bắt đầu bằng nguyên âm a, e, i/y, o/ơ, u … như tiếng Việt – các âm đầu này thường bị môi hoá hay ngạc hoá thành các dạng wu-, wo-, ya-, yu- … và biến đổi nhiều hơn để trở thành vo-, vu- (âm Hán thời Trung Cổ còn âm đầu v-) và fo-, fu- hay mo-, mu- … Thí dụ như úng HV (cái vò, hũ) viết bằng bộ ngoã (ngói) hay phữu (đồ sành) hợp với chữ ung HT, giọng BK bây giờ là weng4, yong1, yong2, yong3 so với giọng QĐ ung3, ngung3, ong3 và Hẹ là wung5, vung5 – so với ong1 (Ngô) và ang3 (Minnan). Có khi môi hoá để trở thành âm môi môi (phụ âm m) như <strong>ung</strong> HV, weng4/yong1 BK, ung3/ngung3 QĐ, wung5/jung1/rung1 Hẹ … mà tiếng Việt là rau <strong>muống</strong>. Thật ra chữ ong viết bằng ông HT là một chữ hiếm trong vốn từ TH hiện nay, tần số dùng<sup>1</sup> là 21 trên 237243358, viết bằng bộ trùng hợp với chữ ông HT, giọng BK bây giờ là weng1, weng3 so với jung1 QĐ và vung1 Hẹ nghĩa là con ong vò vẽ. Chữ này đã có từ lâu, ít nhất là thời Hán khi Hứa Thận ghi lại trong Thuyết Văn Giải Tự là “…ông, trùng tại ngư mã bì giả…”. Khuynh hướng hiện nay dùng điệp từ (từ ghép) của tiếng TH làm nguồn gốc của phong (con ong) khó được nhận ra : như mìfeng1 (mật phong, nghĩa là con ong) hay huàngfeng1 (hoàng phong), măfeng1 (mã phong) chỉ con ong vò vẽ. Thường thì các từ HV như phòng, phóng, phụng, phủ, phi, Phật … có âm cổ hơn còn duy trì trong tiếng Việt là buồng, buông, bưng, búa, bay, Bụt … rất khác với liên hệ phong-ong. Một số tác giả như Lê Ngọc Trụ (“Tầm Nguyên Tự Điển VN” 1993) cho rằng ong có gốc là phong, nhưng ngược lại có một số tác giả khác lại cho rằng phong HV (feng1 BK) có gốc là ong (như theo Paul Benedict<sup>2</sup> trong “Austro-Thai Language and Culture” 1975). </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">2.2 Bướm thường thấy qua từ láy ‘bươm bướm’ hay với nghĩa rộng hơn trong cách dùng ‘bay bướm’. Chữ Nôm viết <strong>bướm</strong> bằng bộ khẩu hoặc bộ trùng hợp với chữ biếm, hay bộ trùng hợp với chữ phạp (viết ngắn đi). So với tiếng Mường Thạch Bi là <strong>pươm</strong>, pướm (theo từ điển Mường-Việt, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Nguyễn Văn Khang chủ biên, Hà Nội 2002), pung khamu (tiếng Môn), pung paq3 (Danaw), pungpaq (Riang), paipyang (Thái), pam pam (Khamu) … Trong vốn từ TH hiện nay có chữ <strong>péng</strong> BK, bang1 QĐ viết bằng bộ trùng hợp với chữ bằng HT (thành ra có thể đọc là bằng, bồng), theo người viết thì chữ này là tàn tích của âm bướm rất hiếm thấy so với các chữ dié BK (điệp HV), hú BK (hồ HV) hay chữ ghép hồ điệp đều có nghĩa là con bướm. Tuy nhiên, cũng trong vốn từ TH hiện nay ta còn thấy <strong>péng</strong> BK hay <strong>pung4</strong> QĐ, pung2 Hẹ viết bằng bộ trúc hợp với chữ phùng HT có nghĩa là cái màn che, cái <strong>buồm</strong>. Cái buồm tiếng HV là phàm, hay fán BK với phụ âm đầu b- chính là âm cổ<sup>3</sup> của phụ âm f- (ph-) còn được duy trì trong tiếng Việt. Như vậy có liên hệ gì giữa hai từ bướm và buồm tiếng Việt ? <strong>Tiếng Việt có đặc điểm là âm thanh gợi nhiều hình ảnh</strong> như âm –ong cho thấy một hìng dáng cong cong, vòng, móng, tròng, lòng thòng, lòng vòng … Theo người viết thì cánh buồm xưa kia có hình cánh bướm và đây là mối dây liên hệ - so với cách dùng con diều (điêu HV, giọng BK là yáo, yào) có hình cánh con diều hâu vậy. Bướm là động vật có trước, sau đó các tàu bè mới dựa vào hình dạng cánh bướm mà làm ra *bườm hay buồm - với thanh huyền để cho khác biệt. Cách dùng thanh điệu để chỉ hai việc khác biệt nhưng lại có những điểm giống nhau thường gặp trong tiếng Hán Cổ mà vết tích còn trong tiếng HV và Việt như đo (động từ) và độ (cũng dùng làm danh từ), hành (làm, động từ) và hạnh (danh từ), truyền và truyện, phân và phần … so với đấy và đây, ngày hôm kia và ngày hôm kỉa/kìa, trôi/trổi/trồi/trội …v…v… </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">Tóm lại trong tiếng TH hiện nay còn một số tiếng Việt Cổ và càng ngày càng mất dần đi có thể vì hệ thống âm điệu khác nhau hay có thể vì khuynh hướng cố tình đào thải các tiếng phương </span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">Nam</span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "> của các chế độ phong kiến phương Bắc chăng ? Trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc biệt : chúng đã làm nền tảng văn hoá và tín ngưỡng dân gian qua bao triều đại, và gốc rễ có quá nhiều thành ra không thế lực nào có thể cắt đứt hay bóp méo được nền <strong>văn hoá bình dân</strong> này<sup>4</sup>.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font size="3"><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-family:Arial; ">3. Tên các con giáp còn lại</span></strong></font></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2266/2382259550_32b631b6df_o.jpg" /> </span></font><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">3.1 <strong>Thìn/Thần </strong>HV, giọng BK bây giờ là chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần HV. Ngoài ra, âm chén BK đã từng có âm họng sau (velar) kh- theo Thuyết Văn Giải Tự - hay thần đọc như là *khân, điều này được Jerry Norman ghi nhận trong bài “ A note on the origin of the Chinese duodenary cycle’ (trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area” 1985). Phụ âm đầu kh- tương ứng với các dạng chỉ con trăn như tiếng Việt, tiếng Môn (klan, klon), Chrâu, Kơho (klăn) … Thêm vào đó là cách viết rất hiếm của chữ giao bằng bộ trùng hợp với chữ thìn bên phải có nghĩa là ‘.. hình dáng như con rắn nhưng lớn hơn và có sừng như rồng..” (Khang Hi Tự Điển, theo </span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">Norman</span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">). Các dữ kiện này có thể giải thích phần nào con vật tượng trưng cho chi này là rồng. Tuy nhiên, theo người viết nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là *tsri(a)n thì ta có thể hiểu được các dạng sau này như <strong>Thìn</strong>/Thần, <strong>tlan</strong> (âm r chuyển thành l) và <strong>trăn</strong>, lươn (âm ts- mất đi), <strong>rắn</strong>, trình (loài cá giống con lươn), <strong>rồng</strong>/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản…) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn &gt; thằn lằn, *tlian &gt; thuồng luồng … Các loài vật này đều có hìng cong vòng như con rồng<sup>5</sup>. Tiếng Thái gọi năm Thìn là bpee ma <strong>rohng</strong> cho thấy vết tích của dạng rồng trong các ngôn ngữ phương </span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">Nam</span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm4.static.flickr.com/3158/2381427245_a0631040cf_o.jpg" /> 3.2 <strong>Tỵ/Tị </strong>HV, giọng BK bây giờ là sì so với zi6 QĐ, Hẹ là ze5, cih5, si5, su5… Trong cách viết/khắc cổ TH của tên 12 con giáp thì Tỵ và Hợi là các chữ tượng hình cho thấy rõ nguồn gốc loài vật, nếu không kể các chữ khác ghi lại hình cây, đồ vật…. Cũng như chữ (Hán) của tên 12 con giáp<sup>6</sup> thường được dùng làm thành phần HT trong quá trình thành lập chữ mới, trừ Tuất ít được dùng. Như vậy là ta có 10 trên 12 tên con vật là loại chữ HT, hay khoảng 83 % so với hơn 90 % chữ Hán hiện đại là loại HT (có tác giả cho rằng tỷ số HT có thể đến 97 %). Loại chữ tượng hình càng ngày càng ít đi và càng khó nhận ra hình dạng nguyên thuỷ (qua các đợt chỉnh lý và đơn giản hoá). Chữ Tỵ còn được dùng để chỉ ngày lễ Thượng Tỵ cầu mát vào đầu tháng Ba của nước Trịnh, điều này cho thấy tên 12 con giáp có thể đã hiện diện từ thời Xuân Thu (770-476 Trước Công Nguyên/TCN). Âm cổ phục hồi của Tỵ là *zji? theo William Baxter (“A Handbook of Old Chinese Phonology” 1992), theo người viết liên hệ đến rít hay rết tiếng Việt. <strong>Kasit</strong> (tiếng Mường Ruc) nghĩa là con rít (rết, rệt) cho thấy dạng âm cổ *sit, so với giọng BK thì phụ âm cuối –t thường mất đi như guó BK (quốc HV, còn duy trì âm cuối –c), lì BK (lực HV), fó BK (Phật HV), shí BK (thập HV, mười), qi1 BK (thất HV, bảy), zhí BK (chất HV) … Còn phụ âm đầu s- thường biến thành t- khi nhập vào tiếng Việt cũng như các chữ khác như sài BK (tái HV, cửa ải), sàn BK (tán HV), shàn BK (thiện HV), shàng BK (thương HV), suí BK (tuỳ HV), sì BK (tự HV, chùa), sòng BK (tụng HV, kiện) … Như vậy sì BK (Tỵ HV) có cơ sở giải thích theo dạng rít Việt, thêm vào đó là tương ứng s-r khi ta so sánh tiếng Mường và Việt (như răng có âm cổ là *săng, theo Vương Lộc trong “An Nam Dịch Ngữ - giới thiệu và chú giải” 1995), và liên hệ đồng đại trong tiếng Việt như siết-riết, sít-rít, sầu-rầu, sờ-rờ, xà-rà, súc-rút, sầm-rầm, xẻo-rẻo…. Tiếng Việt còn có cách dùng <strong>rắn rít</strong> cho thấy hai loài vật này rất gần với nhau, là những loài sống trong hang hốc, bò sát và có thể rất độc hại. Thành ra Tỵ có thể đã từng là rít cũng không khó hiểu cho lắm; Các di tích tìm thấy từ thời Tiên Tần còn cho thấy sâu bọ cũng từng là tên của các con giáp (theo Thường Tuấn trong “Văn hoá 12 con giáp” 2005). Tiếng Thái bây giờ gọi năm Tỵ là bpee ma <strong>seng </strong>cho thấy dạng seng hay *săng (rắn). </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></p><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2085/2381427285_6b1a30f312_o.jpg" /> 3.3 <strong>Tuất</strong> HV so với giọng BK bây giờ là xu1, seot1 QĐ được tượng trưng bằng con chó. Để ý Tý/Tí/Tử liên hệ đến chuột với biến âm <strong>t-ch</strong> thì Tuất cũng có thể liên hệ đến chó (qua phụ âm đầu). Tiếng Hán có chữ <span>chúc/túc</span> HV rất hiếm<sup>1</sup> viết bằng bộ khuyển hợp với chữ túc HT (chân, cẳng) nghĩa là con chó nổi tiếng - giọng BK bây giờ là què, hú, qiăo, răn so với zoek3, coek3 QĐ cok7, sit7 Hẹ … Chữ này là một tàn tích của Tuất hàm nghĩa chó trong vốn từ TH hiện đại. So sánh các từ chỉ chó như chọ (tiếng Mường), cho (</span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">Sakai</span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">, Boloven), chuô (Kháng), txo (Danaw), xoq1 (Wa), choq (Sơđăng), axu, chuak, chook (Môn), xo (Kơho, Stiêng, Chơro), achoq (Chứt), xor (Savana), cho (Laqven, Biat) …v..v… cho thấy tiếng Môn còn duy trì dạng <strong>chuak</strong> (hay tuất). Tiếng Thái bây giờ gọi năm Tuất là bpee jaaw (năm chó). </span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font></p><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm3.static.flickr.com/2311/2381427335_6c73dfd160_o.jpg" /> 3.4 <strong>Mùi/Vị </strong>HV – cách dùng thông thường của Mùi cho thấy dạng âm cổ hơn so với Vị HV gần với giọng BK bây giờ là wèi, giọng QĐ là mei6, Hẹ là mui5, mui6, mui3, vui5, wui5, Ngô là vi6, Minnan (Đài Loan) là bi7 … Các phương ngữ TH cho thấy rõ các biến âm b-v, m-v, w-v … cũng hiện diện trong tiếng HV và Việt. Liên hệ m-v còn thấy trong các cặp muôn-vạn, múa-vũ, mùa-vụ, mựa-vô, mù-vụ, muộn-vãn … Các dạng âm cổ phục hồi theo Jerry Norman hay các tác giả trước đây như *mjôdh đều không giải thích được mối liên hệ đến dê, nhưng dựa vào cặp mùi-vị, ta có thể khôi phục một dạng cổ là <strong>*mvji(e)</strong>, để ý nhóm phụ âm mv- đọc như và giọng Nam (tiếng Việt), và từ đó ta có một dạng nữa là dê. Ngoài ra, nếu để ý tiếng kêu đặc thù của loài dê là ‘be be’ hay mị HV, mie1, mi3, măi BK có nhiều cách viết khác nhau như dùng bộ khẩu, bộ dương (dê) cho thấy Mùi/Vị có thể có nguồn gốc tượng thanh – hay bắt chước tiếng kêu con vật cũng như chim cu, con quạ (ác), con mèo … cũng là một hiện tượng tự nhiên mà thôi. Tiếng Thái gọi năm Mùi là bpea ma <strong>mae</strong> tương đồng với dạng âm cổ *mvji trên.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></p><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm3.static.flickr.com/2030/2382259720_e97b36a377_o.jpg" /> 3.5 <strong>Dậu</strong> HV so với giọng BK bây giờ là you3, jau5 QĐ … cũng chính là bộ thủ thứ 164 trong 214 bộ căn bản. Dậu và Tý (bộ thủ thứ 39) là hai chữ được dùng làm bộ thủ trong 12 chữ viết tên con giáp - điều này cho thấy sự quan trọng của các chữ và nghĩa này trong văn hoá TH. Nếu Tý hay Tử có nghĩa là con phản ánh liên hệ gia đình huyết tộc thì dậu biểu tượng cho rượu chè, một hoạt động căn bản của xã hội nông nghiệp. Tuy nhiên cả hai từ này đã bị <span>‘Hoa hoá’<strong> </strong></span>quá lâu như trên nên chẳng thấy dính líu gì đến các loài vật ! Nhưng hình ảnh và các hoạt động con người từ từ lấn chiếm dần tên 12 con vật tổ (totem) này. Trong vốn từ TH hiện đại có chữ dậu HV, you3 BK viết bằng bộ điểu hợp với chữ hữu bên trái (rất hiếm) nghĩa là một loại chim giống loại trĩ, mà có thể coi như là loại gà (theo “VN Tự Điển” 1954), để ý rằng hai chữ trĩ và kê (gà) đều viết bằng bộ chuy (chim đuôi ngắn, bộ thủ thứ 171 trong 214 bộ). Theo người viết, đây là sợi dây gắn liền dậu và gà mà ta vẫn còn thấy vết tích trong chữ cổ (hiếm) TH. Thêm vào đó, một cách giải thích khác theo tác giả Jerry Norman (sđd, 1985) dựa trên kết quả nghiên cứu của André Haudricourt (1965) rằng các phụ âm v, d, g của tiếng Mường và Việt có thể là vết tích của các tiền tố cổ.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><img src="http://farm4.static.flickr.com/3069/2382259872_a3930f2d5f_o.jpg" /></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">Từ đó, </span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">Norman</span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "> đưa ra dạng âm cổ phục hồi của gà là *rơka hay *ruka. Theo người viết thì quá trình mất tiền tố này cũng giống như dạng kasit cho ra *sit hay rít đã nói ở phần Tý trên. Tác giả Hồ Lê cũng ghi nhận gà là từ Nam Á (Austroasiatic) trong bài viết “Từ Nam Á trong tiếng Việt” (trong cuốn “Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông và các ngôn ngữ dân tộc” NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội 2002). Tiếng Thái gọi năm Dậu là bpe <strong>gai</strong> (năm kê hay gà) hay là bpee <strong>ra gaa</strong> (năm gà) phù hợp với các dạng Mường.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm3.static.flickr.com/2002/2382259762_1a09e7651b_o.jpg" /> 3.6 <strong>Hợi</strong> HV so với giọng BK bây giờ là hài, QĐ là hoi6. Âm cổ phục hồI có dạng <strong>*goi/kui</strong> - liên hệ của hợi và heo có thể thấy được qua tiếng Mường <strong>củi/kun/kul</strong> : phụ âm đầu h-k cùng vị trí phát âm nên dễ hoán chuyển cho nhau như hữu-có, hồ-cò (hồ cầm là đàn cò), Hùng-khun (vua/thủ lãnh dân Mường), Hán-khan (lãnh tụ), hộ-cửa, hơi-khói/khí, hầu-khỉ, hoá-của … Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (Huỳnh Tịnh Của, 1895) còn ghi là “..cá cúi : thứ cá biển nhiều mỡ như heo, cũng gọi là heo biển; Heo cúi : tiếng đôi nghĩa là con heo..” (trang 201). <strong>Gỏi</strong> có thể đã từng làm bằng thịt heo, nhưng nghĩa đã mở rộng để chỉ cá, tôm, gà … trộn với rau. Theo Jerry Norman (sđd) thì gỏi có nghĩa là heo (tiếng Việt Cổ) ?? Không những Hợi liên hệ đến heo/lợn qua tiếng Mường hay Việt Cổ nhưng tàn tích có thể hiện diện trong vốn từ TH hiện đại. Có vài chữ mà theo người viết là các dạng khác nhau của Hợi hay *hị và *hệ (so sánh với các biến âm thi/thơ/thư, kỳ/cờ, thị/chợ, li/rời, di/dời, vị/bởi, ti/tơ, bị/bới/búi…). Chữ <strong>hê/hề/hệ</strong> với giọng BK bây giờ là xi1, hei1, sik1 QĐ viết bằng bộ khuyển hợp với chữ hí/hô/huy HT có nghĩa là con <strong>heo</strong> - chữ này rất ít thấy<sup>1</sup> (hiếm). Một chữ nữa thường gặp hơn là <strong>hí </strong>HV so với giọng BK bây giờ là hei1, héi viết bằng bộ thỉ hợp với chữ hi HT – cũng chỉ con heo/lợn nhưng không thông dụng bằng các chữ khác như trư, thỉ, trề, ba … Vết tích của liên hệ hợi-cúi còn thấy trong chữ hui1 BK (hay hôi/huy/khôi HV) viết bằng bộ thỉ hợp với chữ thổ<sup>1</sup> bên phải nghĩa là con heo. Tiếng Thái bây giờ gọi năm Hợi là bpee <strong>goon</strong> - để ý dạng cun là con heo của tiếng Mường – cho thấy tiếng Thái vẫn còn duy trì một số tiếng Việt Cổ và là một dây nối quan trọng để hiểu rõ hơn nguồn gốc tên 12 con giáp.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">.</span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span><font size="1"><strong><font style="background-color:#ffff00; ">Như vậy</font></strong> là ta đã xem qua tên 12 con giáp, thoạt nhìn thì các từ HV Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi có vẻ như có gốc Tàu – nhưng tra kỹ ra thì thấy rõ những mối dây liên hệ với các ngôn ngữ phương Nam - đặc biệt nhất là tiếng Việt và Việt Cổ qua tiếng Mường và họ Môn-Khme. Điều này càng dễ hiểu nếu ta nhìn rộng ra các tên loài vật vẫn còn tàn tích trong vốn từ TH hiện đại, tuy càng ngày chúng càng bị đào thải vì hệ thống âm thanh không phù hợp hay vì các đợt ‘chỉnh lý’, ‘đơn giản hoá’ chữ viết cùng khuynh hướng cố tình bôi xoá ảnh hưởng từ phương Nam khi nền văn hoá này khởi sắc trước thời Tần. Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá TH từ đời Hán và sau đó từ đời Đường, Tống… với sức ép của nhóm thống trị từ phương Bắc tràn xuống, các tên 12 con vật tổ đã từ từ thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá TH hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ), trong đó dân ta vẫn coi mèo là biểu tượng của chi Mão ! Chính vì thế mà ta phải đặt lại vấn đề nguồn gốc của tên 12 con giáp, đúng theo tinh thần của người trước gói ghém trong câu :</font></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><em>“Trăm năm bia đá thì mòn</em></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">“Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” </font></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; ">.</span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><em><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "></span></em></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="font-family:Arial; "><font size="3" face="Times New Roman">4. Phụ chú và phê bình thêm</font></span></strong><span style="font-family:Arial; "></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "></font></span><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(1) Dữ kiện về tần số dùng của các chữ Hán hiện đại dựa vào tài liệu trên mạng Internet </font><a href="http://www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php"><u><span><font color="#00007f" face="Times New Roman">www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php</font></span></u></a><font face="Times New Roman"><font color="#00007f">.</font> Các chữ hiếm có tần số dùng rất thấp, thường rất ít gặp trong các tự điển hiện đại.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(2) <strong>Ong</strong> có âm cổ phục hồi hệ Nam Thái (Austro-Thai) theo Benedict là *bluung không phù hợp với các dạng QĐ, Hẹ, Việt. Nếu xem các cấu tạo chữ Hán, ta thấy ông thường đuợc dùng làm thành phần HT. Chữ này lại được viết bằng bộ vũ hợp với chữ công cho thấy dạng âm cổ ô- hay hô-, kô- … Xem qua các ngôn ngữ láng giềng ta thấy tiếng East Mnông có ?uong (? chỉ âm bật thanh quản/glottal stop) để chỉ con ong, so với ?ong (tiếng Mường, Bahna, Stiêng, Chrau, Kơho, Sơđăng) theo Paul Sidwell trong cuốn “Proto South Bahnaric” (2000). Sidwell ghi nhận âm cổ phục hồi của tiếng tiền Katuic (Proto-Katuic) là *hang, tiếng tiền Waic là *?ong, *anh, tiếng tiền Chàm là *hong so với huing (tiếng Môn), wong/wol (Riang), ong (Wa), on (Paluang), hong (Besisi), cong (Semang, một dạng Bahna). Các tương quan trên, nhất là từ các ngôn ngữ không có nhiều giao lưu với TH, cho thấy feng1 BK (phong HV) rất có thể là từ mượn từ các dân tộc ở phương Nam từ Thượng Cổ. Tiếng Thái có chữ pheung<sup>F</sup> đọc như phương tiếng Việt, có thể là ảnh hưởng của tiếng TH Trung Cổ - cùng thời với sự xâm nhập và phát triển có hệ thống của tiếng HV thời Đường Tống.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(3) Biến âm b-ph/f rất thường gặp trong ngôn ngữ như qua định luật Grimm trong họ Ấn Âu... Trên phương diện lịch đại ta thấy các cặp từ bỏ-phế, bài-phé, buồng-phòng, buông-phóng, bộ-pho, búa-phủ, bổ/bửa-phẩu/phẫu, bể-phá, bè-phái, bay-phi, bưng-phụng, buồn-phiền, buồm-phàm, bún-phấn, buộc-phọc, bèo-phiêu, bào-phao, Bụt-Phật … ngay cả trên phương diện đồng đại ta thấy bỏng-phỏng, bình-bịch hay bành-bạch, phành phạch … tuy không phổ thông cho lắm. Như vậy thì b- dẫn đến ph- hay ngược lại ? Nếu xem chữ Bụt (từ tiếng Phạn Budh-) để cho ra chữ Phật HV so với chữ Bụt đi thẳng vào tiếng Việt thì rõ ràng là b- đã hiện diện trước ph- . Ngoài ra khi dùng từ ghép trong tiếng Việt thì chữ có trước thường đi trước như buồn-phiền, bè-phái, bỏ-phế….. Thêm vào đó là các âm mạnh (strong sound) như b- có khuynh hướng trở thành âm yếu như p-, ph/f- hay âm vang trở thành âm điếc : hiện tượng này gọi là nhược hoá (lenition hay weakening). </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(4) Thật ra thì đã có những hoạt động thay đổi hoặc ‘chỉnh lý’ các tên như người viết đã từng nêu lên trong bài viết (phần 2) : mãn (mèo) hay miễn thay bằng thố (thỏ), nhưng dân Việt vẫn khăng khăng giữ tên gọi Mão để chỉ con mèo chứ không dùng thỏ. May thay, chính văn hoá truyền khẩu lại duy trì được nghĩa nguyên thuỷ, chứ nếu dựa vào chữ Hán sau nhiều đợt ‘chỉnh lý’ thì có thể không truy được ngọn ngành cho thoả đáng ! </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(5) Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hoá VN” NXB Giáo Dục – Thành Phố HCM (1999) đã ghi nhận rồng xuất phát từ vùng Đông Nam Á và ảnh hưởng đến văn hoá TH (trang 135). Điều này phù hợp với dạng âm cổ phục hồi *tsri(a)n để cho ra các tiếng khác như trăn, rắn, rồng, lươn, thuồng luồng, thằn lằn … </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">(6) qua khung cửa rất nhỏ của tên và cách viết 12 con giáp, ta có thể tìm thấy nhiều dữ kiện đặc biệt của tiếng TH, tiếng HV, Việt … và qua các cách viết cổ của chúng, ta có thể tìm lại được phần nào nền văn hoá cổ đại của phương Đông như sự ‘kính nể’ các loài vật tín ngưỡng thờ các loài vật, dùng chúng làm totem ..v..v..</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman"><strong>5. Đính chính và bổ túc </strong></font></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">5.1 Vì phải tranh thủ thời gian để đánh các bài viết này, nên người viết không thể nào tránh được một số lỗi thông thường như bỏ dấu sai, thiếu/lộn nét, quá tóm tắt, ý mơ hồ … Thí dụ như trong phần 2 dòng 7 trang 1, gióng lên viết là ‘giống lên’; Trang 2 dòng 1 ‘on’ và ‘kun’ đổi cho nhau ..v..v… </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">5.2 Đáng lẽ phải chêm một số chữ Hán để cho rõ nghĩa cho các bài viết này, nhưng vì đa số chữ Hán dùng trong bài viết là loại chữ <strong>hiếm </strong>không dễ dán vào, người viết vẫn còn đang tìm loại fonts cổ điển và thích hợp để giải quyết vấn nạn này. Tuy nhiên, hi vọng bằng cách ghi lại bộ thủ và thành phần HT, mức độ sai trái sẽ giảm thiểu tối đa.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">5.3 Quý độc giả muốn trao đổi thêm ý kiến để chúng ta cùng học hỏi thêm, xin liên lạc với Ban Biên Tập của <strong>khoahoc.net</strong> hay người viết qua địa chỉ email </font><a href="mailto:nguyencungthong@yahoo.com"><u><span><font color="#00007f" face="Times New Roman">nguyencungthong@yahoo.com</font></span></u></a><font face="Times New Roman">, mong rằng “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao’ trong biển học vô cùng vậy.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">.</font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><strong>(Xem tiếp phần 4)</strong></font></span></p>]]></description>
<pubDate>Wed, 02 Apr 2008 06:27:49 GMT</pubDate>
</item>

<item>
<title><![CDATA[Bai 17 : Nguon goc Viet Nam cua ten 12 con giap (P.2)]]></title>
<link>http://uk.blog.360.yahoo.com/blog-Hs9HP9s5dLKB.RSrelidl5dECRRu?p=576</link>
<description><![CDATA[<p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:16pt; color:blue; font-family:Arial; ">Nguồn gốc Việt </span></strong><strong><span style="font-size:16pt; color:blue; font-family:Arial; ">Nam</span></strong><strong><span style="font-size:16pt; color:blue; font-family:Arial; "> của tên 12 con giáp</span></strong><strong><span style="font-size:13.5pt; color:blue; font-family:Arial; "> </span></strong></font><font face="Times New Roman"><span><strong>(phần 2)</strong></span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Nguyễn Cung Thông (</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">15 tháng 06 năm 2006)</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(Tổng hợp của bài này nằm ở (15), Mục 4 (phụ chú))</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman">1. Tổng quát</font></font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Từ phần 1, với một cách phân tích đơn giản ta thấy là 12 con giáp liên hệ đến cách gọi tên con vật trong tiếng Việt qua 3 chi Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. Các phần đầu 1, 2 có mục đích là giới thiệu tổng quát về tên 12 con giáp và đặt nền tảng cho các phần sau chi tiết hơn (phần 3 về sau bàn về tên mỗi con giáp). Người viết cố tránh dùng các thuật ngữ để cho dễ đọc và dễ cảm nhận hơn. Tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người về <strong>nguồn gốc phi-Trung-Hoa của tên con giáp</strong> thật ra đã được giống lên từ những công trình khảo cứu ngôn ngữ học của vùng Đông Nam Á từ thập niên 1930, bởi các tác giả nước ngoài, đáng lẽ phải từ các nghiên cứu khảo cổ hay lịch sử và văn hoá dân gian của dân địa phương mới ‘hợp lý’ và ‘hợp tình’. Nhưng có thể vì những cuộc chiến tranh tàn khốc trong khu vực này trong cả thế kỷ qua nên không cho ra bao nhiêu kết quả chính xác. Thêm vào đó là lịch sử rất lâu đời của vùng Đông Nam Á, cùng với nhiều đợt giao lưu văn hoá qua đường biển cũng như trong đất liền, làm cho quá trình nghiên cứu không được mấy dễ dàng. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Điều đầu tiên là lập bảng so sánh tên 12 con giáp của các ngôn ngữ trong vùng như sau. Để ý một nước có thể dùng nhiều bảng con giáp(1) (VN có ít nhất là 3 bảng) và sự thay đổi nghĩa của một số chi như rồng trở nên con naga (ảnh hưởng của Ấn Giáo, một loài vật huyền thoại nửa voi nửa rắn, có khi nửa người nửa rắn, nửa người nửa tiên…), gà trở thành con chim (theo Tây Tạng, gà thuộc vào loài chim – gà là con vật duy nhất có cánh trong 12 con thú), sự phân biệt giống đực hay cái (gà trống, dê đực …) thay vì tổng quát, có cả sâu bọ(2), heo thành voi theo một cách ghi 12 con giáp của Thái Lan, bị ảnh hưởng tiếng Phạn Nam/Pali. Pali hay tiếng Phạn Nam (phía Nam) có gốc là tiếng Phạn Cổ (classical Sanscrit) nhưng đơn giản hơn, các kinh điển của Phật Giáo đầu tiên được chép bằng tiếng Pali và truyền từ Sri Lanka đến Miến Điện (Myanmar), Thái Lan, Kampuchia, Việt Nam (phần nhỏ) … thuộc phái Tiểu Thừa (Theravada) so với phái Đại Thừa (Mahayana) truyền từ TH qua. Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số được dùng để so sánh hầu tìm ra các dây liên hệ như tiếng Saek đang có hiểm hoạ diệt vong, thuộc dòng Thái-Kadai và chỉ dùng trong vài làng bên Lào và Thái Lan. Tiếng Yay cũng giống như tiếng Dioi cùng thuộc dòng Thái. Tiếng Ahom đã từng hiện diện ở </span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Assam</span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">, bây giờ không còn nữa và chỉ dùng trong các hoạt động tôn giáo địa phương. Dân tộc Ahom có gốc từ tỉnh Vân </span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Nam</span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">, di dân xuống miền Đông Nam Á Châu và Bắc Miến Điện. </span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><strong><span style="color:black; font-family:Arial; "><font size="3"><font face="Times New Roman">2. Bảng so sánh các tên 12 con giáp Á Châu</font></font></span></strong></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "></span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "><font face="Times New Roman"></font></span></p><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "></span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "></span> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2279/2245579043_7c94341287_o.jpg" /></span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; ">.</span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2018/2246376948_67fa332a2b_o.jpg" /></span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; ">.</span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2219/2246377224_78456096f1_o.jpg" /></span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; ">.</span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2056/2246377434_5ddbd69a88_o.jpg" /></span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; ">.</span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(A)</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> thoạt xem tên 12 con giáp bằng tiếng Thái (tên gọi chính thức/formal names) ta thấy rất gần với nghĩa chúng qua tiếng Việt ! Thí dụ như tý/tí/tử là chuat3 hay chuat3 (<strong>3</strong> nghĩa là falling tone, thanh điệu thứ 3 đi xuống gần như dấu huyền tiếng Việt, trong phần này không ghi thanh điệu cho đơn giản) - dạng chuat3 rất gần với chuột tiếng Việt – tuy nhiên, chuat lại không có nghĩa con chuột trong tiếng Thái (mà là nuu). <strong>Điều này cho thấy rằng tiếng Thái đã mượn từ các tên tiếng Việt</strong>, cũng như các dạng khan (kễnh, cọp – năm cọp chính thức gọi là bpee khan nhưng thông thường hơn là bpe seuua), roong1 (rồng – năm rồng chính thức gọi là bpee ma roong1 hay thông thường hơn là bpee nguu yai, nguu là con rắn), rakaa1 (gà – năm gà chính thức gọi là bpe rakaa1 nhưng thông thường hơn là bpee gai) …v..v.. <strong>Chính các tên gọi của Thái là chiếc cầu nối giữa tiếng Việt, Cổ Việt, Mường, Hán Việt</strong> : cũng như Cha luu5 là một dạng khác của k-lu (biến âm k-ch/gi- như Bắc Kinh/Beijing, kông/klông/giang đã ghi lại nhiều lần trong các bài viết trước – xem bài “Nguồn gốc nhóm từ sông Cửu Long” cùng tác giả), klu hay tlu (Mường) chính là tru/trâu tiếng Việt, kbây, krobây (Khme)…. Trâu, bò không có dạng này trong tiếng Thái hiện tại, năm sửu chính thức gọi là bpe cha luu5 so với cách gọi bình dân là bpee wuaa, wuaa hay khoh chỉ con trâu, bò … Còn biến âm kl-s còn thấy khi so sánh tiếng Mường và Việt : klu-sửu (trâu), klong-sông, khláng-sáng3 (Mường Poọng, khlau/krau-sau (Mường Hung), khlt/klăt-sắt, kru-sâu (Mường Uý Lô) …. Có khi âm –l- mất hẳn để cho các dạng khang-sang, khao-sao4 …Trở lại với các cách gọi tên 12 con giáp trong cùng một ngôn ngữ, cách gọi chính thức được người viết xếp vào loại ‘bác học’ (<strong>BH</strong>) vì cần phải học mới biết rõ ràng so với cách gọi ‘bình dân’ (<strong>BD</strong>) qua các tên con thú. Sự phân hoá thành ra ít nhất hai loại văn chương BH và BD không chỉ xẩy ra qua khung cửa của tên 12 con giáp, nhưng còn làm cho vốn từ Hán Việt và Việt thêm phong phú. </span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(B)</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> theo bài “A note on the origin of the Chinese duodenary cycle” của Jerry Norman đăng trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art” 1985, bài này ghi lại và bàn thêm về các dữ kiện từ bài “L’origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” viết từ năm 1935 bởi George Coedès.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(C)</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> Theo tài liệu đăng trên mạng Internet của Wikipedia, chủ đề Chinese Astrology – tên các tháng của dân tộc Hung (Hunnish) hay dân tộc Thổ-Bungari (Turkic Bulgarian) có nhiều trùng hợp với tên 12 con giáp – có lẽ đây là các dân tộc ở xa TH nhất trên phương diện địa lý mà vẫn dùng hệ thống này (so với Nhật, Lào, Thái Lan, Viêt Nam…) và có thể qua con đường buôn bán tơ lụa (the Silk Road). Tiếng Hung hay Thổ-Bungari không liên hệ gì đến tiếng TH hay ngữ hệ Hán-Tạng. Các tên tháng theo thứ tự có nghĩa là con chuột, trâu, cọp … đến con heo rừng cũng như thứ tự và tên 12 con giáp TH.</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(D)</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> Người viết chưa từng thấy bảng tiếng Việt này – cho tới khi đọc cuốn “Encyclopaedia of Asian Civilisation” – NXB Louis Frédéric (1984), </span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">Éditions Jean-Michel Place</span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">. Chú ý các từ thử HV dùng để gọi chuột, khôi để gọi Thân…</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><font face="Times New Roman"><strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">(E)</span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> Theo tác giả William G. Boltz trong bài viết “The Old Chinese Terrestrial rames in Saek” (in trong cuốn “Studies in the Historical Phonology of Asian Languages” chủ biên William G. Boltz và Michael C. Shapiro, NXB John Benjamin, 1991) thì các ngôn ngữ Lu và Pu-Yi (đều thuộc dòng Thái) có các dữ kiện sau (tóm tắt lại với các số đứng sau chỉ thanh điệu)</span></font></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; ">. <br /><span><font face="Times New Roman"></font></span></span><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Verdana; "></span></p> <p style="text-indent:0.5in; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><img src="http://farm3.static.flickr.com/2416/2246377602_76e6901121_o.jpg" /> <br />. <br /><br /></span><strong><span style="color:blue; font-family:Arial; "><font size="3" face="Times New Roman">3. Các giả thuyết dựa trên ngôn ngữ học</font></span></strong><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "> <br /></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Nguồn gốc tên 12 con giáp đã được nhiều học giả ngoại quốc nghiên cứu : </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">George Coèdes (<strong>1935</strong>) sau khi so sánh tên 12 con giáp(5) của Xiêm và Kampuchia đã đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc tiếng Mường Cổ. Ộng đã viết nhiều về các ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ trong vùng Đông Nam Á, tuy nhiên không đưa ra một liên hệ gì về tên 12 con giáp với Ấn Độ. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Học giả TH Li Fang-Kuei (<strong>1945)</strong> chuyên khảo về tiếng Thái(6) đã phân tách thập can và thập nhị chi qua các ngôn ngữ Thái và đưa ra nhận định rằng tiếng Thái vẫn còn duy trì một số phụ âm Hán Cổ như pl-, zng-, sm- tuy không nhất quyết xác định được nguồn gốc tên 12 con giáp từ đâu ra. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Sau đó là các công trình của học giả Paul K. Benedict, vào năm <strong>1967</strong> ông đề nghị thập nhị chi có nguồn gốc Nam-Thái (Austro-Thai)(7) trong bài viết về Văn Hoá và Ngôn Ngữ Nam-Á, và dựa trên các liên hệ của âm ngựa (Ngọ), chó (Tuất) và heo (Hợi). Năm <strong>1975</strong>, ông viết cuốn “Austro-Thai Language and Culture” khai triển các ý từ những năm trước. Ông đưa ra các dữ kiện của các ngôn ngữ địa phương để đi đến kết luận rằng tiếng TH đã mượn một số tiếng Nam-Thái như trứng, gà, ngựa, yên (ngựa), cỡi ngựa, voi, ngà, lợn (heo), thỏ, trâu bò … nuôi lấy thịt, ong, mật, gạo, mía, muối …v…v… và điều đáng chú ý và oái ăm là sau đó, các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á đã phải mượn lại các từ ngữ mà mình cho TH mượn trước kia ! Thí dụ như các từ trà, giấy … Cũng theo Benedict thì có những tính chất đặc thù bắt nguồn từ văn hoá Nam-Thái như phép tính 12 con giáp mà nhiều người tưởng là của TH. Ông ghi nhận rằng chữ ngựa trong tiếng Lê (Li, dân bản xứ đảo Hải Nam) là nga/ka và là một bằng chứng là mã và ngựa có liên hệ, sau khi so sánh và đề nghị dạng âm cổ phục hồi của ngựa trong tiếng Inđônêsia và Mã lai là *t’anga, tác giả đề nghị âm cổ Nam-Thái là *sanga. Cuối cùng kết luận bằng cách đưa ra một giả thuyết rằng có thể một ngôn ngữ cổ Nam-Thái đã từng hiện diện trong vùng Đông Nam Á, mà ông gọi là AT-x và đã cho TH mượn nhiều từ căn bản. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Tác giả Jerry Norman (<strong>1985</strong>) cũng dựa vào các dữ kiện từ tiếng Thái, Hán Việt, Việt và TH, Mường để chứng minh rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc từ phương Nam (Austroasiatic, Nam Á). Ngoài 3 từ Ngọ, Tuất, Hợi, Norman(8) còn liên hệ 4 từ Sửu, Thìn, Mùi, Dậu với các tiếng phương Nam – bài viết trên thật ra là từ một bài viết cùng với tác giả Mei Tsu-Lin (1976) về các từ TH có nguồn gốc phương Nam. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Các tác giả đã đi đến một kết luận là chủ nhân tên 12 con giáp có thể đã ở khu vực bờ biển Đông Nam TH, và có thể là các nước Ngô hay Việt thời xưa. Gần đây hơn, trong bài viết về 12 con giáp của William G. Boltz(9) (<strong>1991</strong>), ông ghi lại một số bảng so sánh gồm có các tiếng Saek, trích từ tài liệu của giáo sư William Gedney (<strong>1982</strong>). Sau khi phân tích các dữ kiện, tác giả kết luận rằng bảng 12 con giáp của tiếng Saek Cổ (mà Gedney chép lại) là vay mượn từ TH, có lẽ khoảng 200 hay 600 năm sau Công Nguyên (SCN), và 12 con giáp VN có lẽ mượn sau đó nữa (thời kỳ Late Middle Chinese). </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Từ năm <strong>2000</strong>, người viết(10) đã cho ra các bài (kết hợp từ nhiều năm trước) bàn về tên 12 con giáp để cho thấy nguồn gốc VN. Các tác giả trước đây không ai đề nghị nguồn gốc VN của 12 con giáp, có lẽ gần nhất là tiếng Mường Cổ mà thôi. Thêm vào đó là những học giả ‘có uy tín’ trong nước như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn … cũng như các học giả TH đều viết nhiều về văn hoá VN nhưng đều hàm ý nguồn gốc TH của 12 con giáp, tuy không ai dựa trên dữ kiện ngôn ngữ học cả và đa số dựa trên tài liệu lịch sử và văn chương cổ điển. Ngôn Ngữ Học nói chung, và Âm Ngữ Học Lịch Sử (Historical Phonology) nói riêng là những ngành học khá mới mẻ ở VN và TH. </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Như đã viết ở phần 1, ta đã thiết lập liên hệ <strong>Mão/Mẹo/mèo</strong>,<strong> Ngọ/ngựa </strong>và<strong> Tý/Tử/chuột</strong>. Dựa vào cách cấu tạo chữ Hán, cũng như kết quả mà các tác giả phần trên đã dầy công nghiên cứu, ta có thể khám phá thêm một số chi tiết mà các vị trên chưa biết tới, có lẽ vì không biết đến tiếng Việt Cổ chăng ? </font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p align="center" style="text-align:center; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman"><img src="http://farm3.static.flickr.com/2386/2243469051_8a5e38dfab_o.jpg" /></font></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "></span></p> <p style="text-indent:0.5in; text-align:justify; "><span style="font-size:10pt; color:black; font-family:Arial; "><font face="Times New Roman">Thí dụ như chi thứ 9 là Thân có liên hệ gì đến con khỉ VN ? Nếu ta xem cách viết chữ Thân viết bằng bộ điền với nét giữa dài hơn, giọng BK bây giờ là shēn (viết theo pinyin), được phục hồi âm cổ với dạng *khrin (Li Fang-Kuei 1971, William Boltz 1991), hay dạng *hljin (William Baxter11 1992 - để ý phụ âm r và l dễ hoán chuyển cho nhau). Nếu xem cách viết chữ khôn (một trong bát quái, một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng Cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh (HT). <strong>Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và khôn, tuy nhiên tiếng Việt Cổ có chữ khọn là con khỉ</strong>(12) (theo “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị”/ ĐNQATV, Huỳnh Tịnh Của, 1895 - lặp lại trong cuốn “Từ Điển Từ Việt Cổ”, Nguyễn Ngọc San, Đinh